Thế nhưng để nhận được mức lương khủng, các lãnh đạo ở các công ty công ích này đã lấy từ quỹ lương của người cần lao
Net. Xét về hậu quả, có nhiều mức hậu quả khác nhau nhưng cao nhất là gây thiệt hại hơn 2 tỷ đồng. ” Tại Điều 18 của Quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông báo tài chính đối với doanh nghiệp do quốc gia làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn quốc gia (ban hành kèm theo Nghị định số 61/2013/NĐ-CP ngày 25/6/2013 của Chính phủ) quy định cụ thể về mức khen thưởng đối với nhân viên quản lý doanh nghiệp: “Hàng năm căn cứ vào chừng độ hoàn thành nhiệm vụ, viên chức quản lý doanh nghiệp được xét chi thưởng từ Quỹ thưởng nhân viên quản lý doanh nghiệp như sau: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: Được thưởng tối đa 1,5 tháng lương thực hành của viên chức quản lý doanh nghiệp.
Điều 239 Bộ luật lao động năm 2012 có qui định: “về việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động xác định”: “Người nào có hành vi vi phạm các quy định của Bộ luật này, thì tùy theo thuộc tính, chừng độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu nghĩa vụ hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của luật pháp”… Tuy nhiên vì Bộ luật Hình sự không có quy định về loại tội này nên các vị giám đốc nhận lương khủng có thể thoát tội và chỉ bị xử phạt hành chính?!.
Nhưng theo trạng sư Chu Đăng Chung – Đoàn trạng sư TP. Bởi vậy cần truy cứu bổn phận hình sự những vị “ quan tham “ này về tội cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999 mới thỏa đáng.
Tức thị, Chính phủ đã đưa ra mức trần đối với lương trả cho chức danh lãnh đạo doanh nghiệp. Như vậy, có thể khẳng định, hành vi các “ quan tham” dùng quỹ lương của người cần lao để phân bổ lương “khủng” cho mình là có thuộc tính hiểm đáng kể, không chỉ vi phạm các quy định của quốc gia về quản lý kinh tế nói chung, vi phạm các quy định trong kiểm soát và phân bố lợi nhuận tại doanh nghiệp nhà nước nói riêng mà còn gây ra hậu quả nghiêm trọng trên thực tế.
Công ty không được sử dụng quỹ tiền lương của người cần lao để trả cho thành viên lãnh đạo. Hà Nội, phân tích đánh giá: Hành vi dùng quỹ lương của người cần lao để hưởng lương “khủng” của các vị lãnh đạo quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu đã có các dấu hiệu của tội cố ý làm trái các quy định của quốc gia về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Và mới nhất là Nghị định số 50/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ; Nghị định số 51/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ; Nghị định số 61/2013/NĐ-CP ngày 25/6/2013. Theo đó bảng mức lương cơ bản (phụ lục II – ban hành kèm theo Nghị định số 51/2013/NĐ-CP) quy định chủ toạ hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty chuyên trách ở tập đoàn kinh tế có mức lương tối đa là 36 triệu đồng/ tháng; Tổng giám đốc hoặc giám đốc tập đoàn kinh tế là 35 triệu đồng/tháng; Thành viên chuyên trách hội đồng thành viên, kiểm soát viên chuyên trách, Phó giám đốc điều hành hoặc phó giám đốc của tập đoàn kinh tế là 32 triệu đồng/tháng; Kế toán trưởng của tập đoàn kinh tế hưởng lương 29 triệu đồng/tháng.
Điều này trái nguyên tắc “Công ty không được dùng quỹ lương hướng của người cần lao để trả cho thành viên lãnh đạo”. Có vẻ lãnh đạo các doanh nghiệp trên đã lừ, thậm chí bất chấp qui định của nhà nước, lừ việc Chính phủ đã đưa ra mức trần đối với lương trả cho chức danh lãnh đạo doanh nghiệp (như đã diễn tả ở trên), bỏ qua cả quy định về chế độ phân phối lợi nhuận đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu.
Cụ thể: Hành vi sử dụng quỹ lương của người cần lao để chi lương bổng, tiền thưởng vượt quá mức trần cho viên chức quản lý doanh nghiệp quốc gia vi phạm văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp hiện giờ là Nghị định số 51/2013/NĐ-CP, Nghị định số 50/2013/NĐ-CP và Nghị định số 61/2013/NĐ-CP của Chính phủ, (nếu xét về thời điểm hành vi xảy ra thì vi phạm trực tiếp Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty quốc gia; Thông tư số 27/2010/TT-BLĐTBXH ngày 14/9/2010 của Bộ lao động thương binh và tầng lớp hướng dẫn thực hiện quản lý lao động, lương bổng, thù lao và tiền thưởng trong công ty nghĩa vụ hữu hạn một thành viên do quốc gia làm chủ sở hữu); vi phạm Thông tư số 117/2010/TT-BTC và Thông tư số 138/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Thứ ba, theo quy định tại Điều 6, Điều 7 của Nghị định số 50/2013/NĐ-CP, khi năng suất lao động và lợi nhuận thực hiện trong năm tăng thì mức lương theo năng suất cần lao tăng 1%, tiền lương được tăng thêm không quá 0,8% và đó là cơ sở để tính quỹ lương thực hiện của người cần lao.
Vụ việc đã có đầy đủ các dấu hiệu của tội cố ý làm trái quy định của quốc gia về quản lý kinh tế. Theo phaply. Lương “ khủng “ của lãnh đạo được cấu véo, bớt xén từ quĩ lương của những người cần lao dầm mình ngụp lặn dưới cống sâu hôi thối. Có dấu hiệu tù rõ ràng Ý kiến của một luật gia cho rằng, hành vi bớt lương của lao động chi cho lương “khủng” của các vị lãnh đạo là nghiêm trọng.
Như vậy, nếu dẫn chiếu với những qui định trên, thì trường hợp cao nhất mà 8 vị lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước này có thể được hưởng hợp pháp: mức lương tối đa, thưởng tối đa do hoàn tất xuất sắc nhiệm vụ, được lập quỹ thưởng tối đa trích từ lợi nhuận được chia theo vốn tự huy động thì “con số hợp pháp” này vẫn là quá nhỏ so với mức lương “khủng” họ đã hưởng trên thực tiễn.
Nếu các cơ quan có thẩm quyền không xử nghiêm vụ này, chỉ xử lý hành vi của các vị lãnh đạo quản lý doanh nghiệp nhà nước này ở chừng độ vi phạm hành chính thì thật sự chưa xứng với thuộc tính hiểm nguy và mức độ nghiêm trọng của hành vi mà họ đã gây ra.
(Trước đây theo Thông tư số 27/2010/TT-BLĐTBXH ngày 14/9/2010 của Bộ cần lao- thương binh và tầng lớp thì mức lương tối đa các sếp này được hưởng cũng chỉ khoảng 30 triệu đồng/tháng) Còn đối với viên chức quản lý không chuyên trách tại công ty thì thù lao được tính theo công việc và thời kì làm việc, nhưng không vượt quá 20% lương hướng của viên chức quản lý chuyên trách.
Không hoàn thành nhiệm vụ: Không được chi thưởng. Đó là mức hậu quả đặc biệt nghiêm trọng vì lẽ ra nguồn tiền đó ngay từ đầu phải được cho vào quỹ lương của người cần lao để tăng lương, thưởng cho họ, để góp phần phục vụ và cải thiện chất lượng cuộc sống cũng như sức khỏe của người cần lao, nhưng số tiền này đã bị các “quan tham” cấu véo, ăn chặn, bòn rút, gây căm uất trong dư luận (dẫn chiếu vào khoản 3 Điều 165 Bộ luật Hình sự).
Vi phạm pháp luật đã rõ… Cơ chế kiểm soát, phân bố lợi nhuận, vấn đề lương hướng hàng tháng trả cho lãnh đạo tại Doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật như Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính; Thông tư số 27/2010/TT-BLĐTBXH ngày 14/9/2010 của Bộ lao động thương binh và từng lớp; Thông tư số 117/2010/TT-BTC ngày 5/8/2010 của Bộ Tài chính; Thông tư số 138/2010/TT-BTC ngày 17/9/2010 của Bộ Tài chính.
Hoàn thành nhiệm vụ: Được thưởng tối đa 1 tháng lương thực hiện của nhân viên quản lý doanh nghiệp. Nguồn: Internet Pháp Lý Online đã thảo luận với một số luật gia, luật sư phân tích và bình luận chuyên sâu về vấn đề này. Vn. Thứ hai, về vấn đề phân phối lợi nhuận và tiền thưởng cho các viên chức quản lý doanh nghiệp quốc gia: Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 51/2013/NĐ-CP quy định: “Tiền thưởng của viên chức quản lý được xác định theo năm tương ứng với hiệu quả sinh sản, kinh doanh, kết quả quản lý, điều hành hoặc kiểm soát, được trả một phần vào cuối năm, phần còn lại sau khi chấm dứt nhiệm kỳ.
Ngay cả trong trường hợp lợi nhuận được chia theo vốn tự huy động thì quỹ thưởng cho ban quản lý điều hành trích từ lợi nhuận cũng phải tuân mức trần mà Chính phủ đã xác định. ” Đây là một quy định mới, mới có hiệu lực từ ngày 15/8/2013, tuy nhiên ngay tại Điều 4 Thông tư số 138/2010/TT-BTC ngày 17/9/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận đối với việc Trích lập quỹ thưởng Ban quản lý điều hành công ty cũng đã xác định: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thì được trích tối đa 5% lợi nhuận được chia theo vốn tự huy động để lập quỹ thưởng, mức trích một năm không vượt quá 500 triệu đồng (đối với công ty có Hội đồng thành viên), 200 triệu đồng (đối với công ty không có Hội đồng thành viên); Đối với trường hợp hoàn tất nhiệm vụ thì được trích tối đa 2,5% lợi nhuận được chia theo vốn tự huy động để lập quỹ; mức trích một năm không vượt quá 250 triệu đồng (đối với công ty có Hội đồng thành viên), 100 triệu đồng (đối với công ty không có Hội đồng thành viên); Đối với trường hợp không hoàn tất nhiệm vụ thì không được trích lập quỹ thưởng Ban quản lý điều hành công ty kể cả trường hợp công ty có lãi”.
Chúng tôi dựa vào các văn bản này để minh chứng cho những sai phạm pháp luật chẳng thể bỏ qua của các “ ông chủ” ở những công ty công ích nhận “lương khủng” Thứ nhất, về vấn đề lương hướng hàng tháng: theo khoản 1, Điều 4, Nghị định số 51/2013/NĐ-CP, một trong các nguyên tắc được Chính phủ xác định là lương bổng đối với viên chức quản lý chuyên trách tại doanh nghiệp nhà nước gắn với hiệu quả sản xuất, kinh dinh, kết quả quản lý, điều hành hoặc kiểm soát và có khống chế mức hưởng tối đa.