Vài chiếc thuyền gỗ mục lâu đời như tự thời cổ tích xa xôi nằm gối bãi giống như bức tranh thủy mạc màu lam khơi gợi lại quá cố một thời sông nước
Từ bức "Ruộng lúa" cho đến mãi về sau này những bức "Lội suối", "Tiên Dung và Chử tiểu đồng" và "Kiều tắm" là cả một hành trình thăm thẳm qua nửa thế kỷ cần lao sáng tạo, đã mang lại vẻ vang không chỉ riêng ông mà còn cho cả nền Mỹ thuật sơn hà. Người ta còn nhớ bức tranh mang lại thành công buổi đầu của Nguyễn Phan Chánh là bức "Ruộng lúa", ông vẽ dự giải thi tem Bưu chính Đông Dương do Pháp tổ chức, và đã đoạt giải Nhất vào năm 1928 lúc đang còn là sinh viên.
Vậy mà thế giới tranh Nguyễn Phan Chánh, những "Chơi ô ăn quan" hay "Em bé cho chim ăn", hoặc còn nhiều hơn thế nữa, công chúng thưởng ngoạn khắp mọi miền đều thuộc nằm lòng, thuộc như thơ, như nhạc. Nhà lưu niệm danh họa Nguyễn Phan Chánh được dựng trong một khu vườn nhỏ bên cạnh dòng sông.
, Thảy hình ảnh, sắc màu đẹp đẽ đó đã là máu huyết tuần hoàn nuôi dưỡng ông ngay từ thuở thơ từ. Nhưng tôi lại muốn nói về cái thuở ban sơ, về một thời những "Hoa sớm" bừng nở như thơ Phạm Hầu từng viết Cành mai vừa hé vài hoa sớm trong bài thơ "Mơ xuân" của ông. Nhưng để trêu chọc một họa phẩm như là thuộc thơ nhạc thì quả là hiếm. Và chính Nguyễn Phan Chánh là mẫu nghệ sĩ độc đáo ấy.
Tuổi tên các họa sĩ đạt giải cao nhất tại các triển lãm tranh quốc tế thời bấy giờ như: Nguyễn Phan Chánh, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Phạm Hầu.
Tí hon sớm trình bày nhân tài. Hàng bao lăm đề tài là bấy nhiêu hồi quang ma lanh về những làng quê xưa, như muốn dẫn đường, muốn cho con người ta thỏa mãn cái nhãn quang thưởng ngoạn về một quê quán xa xưa đã bị thời kì tước. Thường ngày, người ta có thể thọc thơ, nhạc của ai đó mà họ yêu thích, thuộc đến nỗi hòa tan vào vô thức.
Các nhà phê bình khi viết về hội họa Nguyễn Phan Chánh thường nhắc đến người thầy của ông: Họa sĩ Victor Tardieu, với thiên hướng đào tạo cho các sinh viên Việt Nam trở thành những họa sĩ thuần túy Việt Nam.
Nào Tắm cho trâu, Đi chợ, Đi lễ chùa, Đôi chim bồ câu, cho đến Cầu ao, Xóm chài, Đền làng, Mùa đông đi cấy. Người ta kể lại rằng, do mồ côi cha từ sớm, cảnh nhà nghèo túng, Nguyễn Phan Chánh từ thuở lên mười đã tập dượt vẽ tranh, và biết vẽ đẹp các loại tranh dân gian truyền thống để bán, phụ giúp mẹ nuôi các em thơ. Tôi đứng bên bệ thờ thắp nén hương tưởng nhớ người xưa rồi bước ra lang thang dọc theo bờ sông cạn.
Gọi là nhà lưu niệm nhưng thực ra chẳng thấy hiện vật lưu niệm gì
Phạm Hầu cũng là một họa sĩ xuất thân từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhưng Nguyễn Phan Chánh là lớp sinh viên khóa trước tiên của trường từ những năm 1925, còn Phạm Hầu là khóa sau cùng 1940.
Chuyện thời hoa niên ông đã sớm vẽ tranh bán ở các chợ, nhất là những phiên chợ Tết, có chút gì đó như là dự báo một định mệnh cho cả thế cục tài hoa của ông sau này. Từ bấy, nghe đâu liên miên bất tận cái bể vô thức trong ông là cái làng quê Việt xưa thường hằng hiện hữu.
Ý kiến đó không có gì bàn cãi, nhưng xét về phạm trù tương quan giữa thế giới và cái tôi nghệ sĩ của từng cá nhân (nhân kiệt), thì sự thành công của mỗi tác phẩm nghệ thuật còn là kết quả của từng cái tôi tuấn kiệt độc đáo. Đồng lúa - nương dâu - sân đình - cánh cò bay tít tắp đồng xa.
Nguyễn Nhã Tiên. Vẫn biết đấy là từ vọng tưởng mà ra, nhưng nhìn đàn trẻ nhỏ tụ năm tụ ba vui chơi trên con đường làng, hình ảnh ấy khiến tôi liên hệ đến tác phẩm tranh lụa "Chơi ô ăn quan" của Nguyễn Phan Chánh. Đi vòng quanh trên những con đường làng Tân Giang, quả thật những hình ảnh xưa trong tranh lụa Nguyễn Phan Chánh nghe đâu mơ hồ đâu đây. Cái dòng sông Tân Giang từng tắm gội tuổi thơ Nguyễn Phan Chánh thuở trăm năm trước giờ nó bồi lấp như thế này đây! Cạn khô nứt nẻ đơn độc bùn đất và cây cỏ dại.
Là những đóa "hoa sớm" tỏa ngát hương sắc, tạo dựng nên một bình minh huy hoàng cho nền mỹ thuật, thuở giang san còn lầm lũi trong bóng đêm. Cứ như sông suối chảy vào hòa tan trong mọi tâm hồn vĩnh cửu một quê xưa. Trời mỏng mảnh mưa rơi, nhẹ như khói, mặc chiếc áo mưa "thuận tiện" xào xạc những âm thanh, tôi theo anh bạn văn nghệ Hà Tĩnh chạy xe máy quanh quéo khắp phường phố ngoại thành, rồi ngoặt vào một con đường làng dọc theo một dòng sông đã khô cạn.
Thế nên tranh ông, nơi đâu cũng thoảng cái thần hồn quê Việt. Tranh "Ô ăn quan". Và cho dù số phận mệnh yểu dở dang, Phạm Hầu cũng đã kịp ghi tên mình thành một nét son trong buổi đầu lịch sử mỹ thuật Việt Nam hội nhập cùng thế giới.